Là một người không làm việc trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, bạn rất dễ nhầm lẫn và không hiểu rõ các khái niệm như lãi suất chiết khấu và lãi suất tái chiết khấu. Đa số mọi người nghĩ rằng lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu là như nhau. Hoàn toàn không chính xác. Dành ngay 15 phút tìm hiểu và so sánh 2 loại lãi suất cũng như các yếu tố tác động tới hai lãi suất này. 

Về khái niệm 

Nhiều tài liệu không phân biệt rõ hai khái niệm này hoặc cách định nghĩa khá thuật ngữ và khó hiểu khiến nhiều người khó hình dung. 

Lãi suất chiết khấu 

Lãi suất chiết khấu tiếng Anh là Discount Rate, có 2 (hai) loại chính:

  • Loại 1: Lãi suất ngân hàng thương mại (NHTM) chiết khấu cho khách hàng dưới hình thức chiết khấu thương phiếu hay các giấy tờ có giá trị khác chưa đến hạn thanh toán 
  • Loại 2: Lãi suất mà ngân hàng trung ương (NHTW) chiết khấu cho NHTM khi NHTM không đủ dự trữ bắt buộc bằng các giấy tờ có giá trị của chính NHTM

Lãi suất tái chiết khấu

Lãi suất tái chiết khấu, tiếng Anh là Re-Discount Interest Rate. Đây là lãi suất mà NHTM mang các giấy tờ có giá trị của khách hàng chưa đến hạn thanh toán của mình tới xin NHTW chiết khấu. 

Lãi suất chiết khấu

Hiểu một cách đơn giản, hai loại lãi suất này dựa trên cơ sở các giấy tờ có giá của khách hàng như hối phiếu, lệnh phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi,… 

NHTM sẽ chấp nhận trả tiền cho khách hàng (chủ sở hữu của các loại giấy tờ trên) để đổi lấy một khoản lời gọi là lãi suất chiết khấu (lãi suất chiết khấu loại 2) và thu lại khoản tiền của họ khi đến hạn thanh toán. 

Khi các NHTM đang cần tiền mà các giấy tờ trên chưa tới hạn thanh toán, họ sẽ mang giấy tờ này bán cho Ngân hàng Nhà nước để đổi lấy tiền mặt, bớt cho nhà nước một khoản theo lãi suất tái chiết khấu

Vì thế mà hai dạng lãi suất này sẽ khác nhau. Lãi suất tái chiết khấu của NHTW thường sẽ thấp hơn lãi suất chiết khấu mà NHTM dành cho khách hàng của mình. 

Nhân tố nào ảnh hưởng tới lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu? 

Có nhiều yếu tố thị trường tác động tới hai khoản lãi suất này. 

Mức cung và cầu tiền tệ trên thị trường 

Cung cấp luôn là yếu tố cơ bản quyết định giá cả của thị trường. Nếu cung về tiền tệ cao, lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu có thể được quy định tăng. 

Nếu lãi suất chiết khấu bằng hoặc thấp hơn lãi suất thị trường, các NHTM sẽ tiếp tục cho vay đến khi tỷ lệ dự trữ giảm tới mức tối thiểu. Bởi sau đó họ có thể vay từ NHTW. 

Nếu lãi suất chiết khấu cao hơn thị trường, NHTM phải hạn chế cho vay. Thậm chí phải dự trữ tiền mặt bởi lãi suất cao khách hàng sẽ có nhu cầu tiền mặt nhiều. 

Lạm phát 

Lạm phát là tình trạng giá trị thị trường của một đồng tiền tăng vượt mức giá trị thực của nó. Lúc này ngân hàng cần hạn chế cho vay bởi nhu cầu tiền mặt của thị trường đang lớn. Lãi suất chiết khấu có thể sẽ được điều chỉnh giảm để kìm hãm lạm phát. 

Lãi suất tái chiết khấu

Chính sách tiền tệ của Chính phủ 

Chính sách tiền tệ phụ thuộc vào NHTW, họ điều chỉnh lãi suất để cân bằng nền kinh tế, phòng ngừa lạm phát cũng như khủng hoảng kinh tế xảy ra. 

Nếu lãi suất tăng, nhu cầu tiêu dùng và đầu tư giảm, nhà nước sẽ hạ lãi suất tái chiết khấu để tạo điều kiện cho các NHTM và ngược lại. 

  1. Rủi ro tín dụng 

Các yếu tố thị trường như tình hình kinh tế, xã hội, tỷ giá hối đoái và các chính sách tài khóa của nhà nước cũng là các yếu tố tác động lên lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu. 

Trên đây là so sánh giữa lãi suất chiết khấulãi suất tái chiết khấu. Hy vọng bạn đọc đã hiểu rõ và hai khái niệm này. Từ đó, có những kế hoạch tài chính phù hợp cho bản thân. Nhớ theo dõi lãi suất cũng như các yếu tố thị trường để có kế hoạch tốt nhất nhé!

Topics #lãi suất #lãi suất chiết khấu #lãi suất tái chiết khấu